Từ năm 2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm để điều hành tỷ giá. Có thể bạn đã từng bắt gặp thuật ngữ tỷ giá trung tâm nhưng chưa hiểu rõ về khái niệm cũng như cách xác định. Cùng LawFirm.Vn tìm hiểu về Tỷ giá trung tâm qua bài viết này.
1. Tỷ giá trung tâm là gì?
Tỷ giá trung tâm là tỷ giá chính thức vào giờ chốt giao dịch cuối ngày hôm trước, cộng với một biên độ nhất định do ngân hàng nhà nước quyết định theo diễn biến thị trường. Tỷ giá trung tâm được lấy làm tỷ giá giao dịch của ngày hôm sau. Tỷ giá trung tâm là tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.
Tỷ giá trung tâm linh hoạt là cơ chế xác định tỷ giá phần nào khách quan trên cơ sở cung cầu của thị trường, theo cơ chế thả nổi có quản lý. Để điều chỉnh tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh cung cầu bằng cách mua vào hoặc bán ra ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Cho đến thời điểm hiện tại, biên độ tỷ giá được điều chỉnh lên +-3%. Cơ chế quản lý này được cho là mềm dẻo hơn, linh hoạt và phù hợp với thông lệ quốc tế.
2. Cách xác định tỷ giá trung tâm
Tỷ giá trung tâm được xác định dựa trên sự thay đổi tỷ giá hối đoái bình quân gia quyền trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng và sự thay đổi tỷ giá hối đoái của nhiều loại tiền tệ của các nước có quan hệ thương mại trên thị trường quốc tế. Các hoạt động mua bán, vay, trả nợ hay đầu tư lớn vào Việt Nam, cân đối kinh tế vĩ mô và tiền tệ tuân thủ các mục tiêu chính sách tiền tệ.
Tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam so với đô la của Mỹ do ngân hàng nhà nước công bố hàng ngày là cơ sở cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngoại hối, xác định tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam sang đô la Mỹ.

3. Lịch sử áp dụng tỷ giá trung tâm
Trong năm 2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định 2730/QĐ-Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (ngày 31/12/2015) về việc công bố tỷ giá trung tâm của VND với USD, tỷ giá chéo của VND với một số ngoại tệ khác, theo đó, tỷ giá trung tâm của VND với USD được xác định trên cơ sở tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn ở Việt Nam, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ. Quyết định này có hiệu lực từ đầu tháng 1/2016.
Ngân hàng Nhà nước cho biết, phương thức điều hành tỷ giá mới cho phép tỷ giá biến động linh hoạt theo diễn biến cung cầu ngoại tệ và biến động của thị trường thế giới hàng ngày để đạt được định hướng của chính sách tiền tệ.
Trước đây, các quyết định về tỷ giá hối đoái được xác định dựa trên tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng và biên độ dao động (hiện nay cho phép tối đa 3%).
Từ năm 2017 trở đi, trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ- Trung, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì ổn định tỷ giá, phù hợp với quan hệ cung – cầu ngoại tệ và các tác động tiêu cực từ thị trường quốc tế. Cuối năm 2017, tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ở mức 22.425 VND/USD, chỉ tăng 1,2 % so với đầu năm. Năm 2018: Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố đã tăng khoảng 1,6%,tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tăng khoảng 2,7% so với đầu năm. Năm 2019, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tăng tỷ giá trung tâm giữa VND và USD thêm 330 đồng, lên mức 23,155, tương đương tăng 1.4% so với cuối năm 2018.
4. Cơ quan điều hành tỷ giá trung tâm
Như đã đề cập, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành và giám sát.
Mỗi quốc gia được yêu cầu duy trì tỷ giá trung tâm của đồng bản tệ với USD nhưng trong những trường hợp cán cân thanh toán quốc tế bị mất cân đối cơ bản thì có thể tiến hành phá giá hay nâng giá đồng tiền.Trong trường hợp tỷ giá thay đổi nhỏ hơn 10% thì IMF không có ý kiến can thiệp nhưng nếu thay đổi ở mức độ cao hơn thì phải có sự chấp thuận của IMF. Khả năng thay đổi tỷ giá trung tâm là giải pháp cuối cùng nhằm giúp cân bằng cán cân thanh toán (Balance Payment-BP) và đây được xem như một trong những đặc điểm cơ bản của BWS.


