Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

0 10.126

Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai là hành vi lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai.


1. Căn cứ pháp lý

Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai được quy định tại Điều 228 Bộ luật Hình sự 2015, cụ thể:

Điều 228. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

1. Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Như vậy, đối với tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai thì mức phạt tù cao nhất lên đến 07 năm.


2. Cấu thành tội phạm của tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

2.1. Mặt khách thể của tội phạm

Là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là các quy định của nhà nước trong lĩnh vực về sử dụng đất đai.

Đối tượng tác động của tội phạm này là đất đai.

Hình minh họa. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

2.2.1. Dấu hiệu hành vi khách quan

Hành vi khách quan của người phạm tội này là hành vi lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai.

Theo quy định của điều luật thì người phạm tội có thể thực hiện các hành vi sau:

  • Lấn chiếm đất đai: Lấn chiếm là từ ghép chỉ hành động “lấn” và “chiếm”. Lấn là lấy thêm đất liền kề với đất của mình nhằm mở rộng diện tích, còn chiếm là dùng thủ đoạn chiếm lấy đất của người khác làm đất của mình mà trước đó mình không hề có. Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định thì lấn chiếm cũng có nghĩa gồm cả lấn và chiếm.
  • Chuyển quyền sử dụng đất trái với các quy định của nhà nước: Là bán đất cho người khác không đúng với quy định của nhà nước như: bán đất nông nghiệp cho người khác để làm nhà, bán đất do Hợp tác xã giao cho sản xuất cho người khác để lấy tiền tiêu xài…
  • Sử dụng đất trái với quy định của nhà nước: Là trường hợp người được giao đất đã sử dụng đất không đúng với mục đích được giao như: để đất hoang, đất giao để trồng rừng nhưng lại dùng đất đó làm nhà hàng kinh doanh, đất giao để sản xuất nông nghiệp lại dùng đất đó nuôi tôm…

2.2.2. Về hậu quả

Đối với tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Nếu hậu quả chưa nghiêm trọng, thì người có hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về sử dụng đất đai phải là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hậu quả nghiêm trọng do hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về sử dụng đất đai gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản cho con người, cho cơ quan, tổ chức và những thiệt hại nghiêm trọng khác cho xã hội.

2.1.3. Các dấu hiệu khách quan khác

Ngoài hành vi khách quan, hậu quả, đối với tội vi phạm các quy định của Nhà nước về sử dụng đất đai, nhà làm luật còn quy định các dấu hiệu khách quan khác như: các quy định của nhà nước về sử dụng đất đai, các quy định này thường là của chính phủ hoặc của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Vì vậy, khi xác định hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về sử dụng đất đai, các cơ quan tiến hành tố tụng cần nghiên cứu kỹ các văn bản của nhà nước quy định về sử dụng đất đai.

2.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội vi phạm quy định về sử dụng đất đai thực hiện hành vi của mình là do cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm quy định của nhà nước về sử dụng đất đai gây ra hậu quả nghiêm trọng, mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, nhưng chủ yếu vì động cơ vụ lợi.

2.4. Chủ thể của tội phạm

Là những người sử dụng đất đai


3. Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự

Người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này mà vẫn thực hiện một trong các hành vi sau:

  • Hành vi lấn chiếm đất;
  • Hành vi chuyển quyền sử dụng đất;
  • Hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai.
5/5 - (2 bình chọn)


LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng phản hồi tại trang Liên hệ của Website hoặc qua email: support@lawfirm.vn
Có thể bạn quan tâm
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận