Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

0 10.147

1. Căn cứ pháp lý

Tội làm trái các quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện.

Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự được quy định tại Điều 334 Bộ luật Hình sự 2015:

Điều 334. Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội trong thời chiến, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


2. Cấu thành tội phạm của tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về đăng ký nghĩa vụ quân sự, chính sách về gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện.

Hình minh họa. Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

– Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Làm trái các quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện được hiểu là cố ý thực hiện một trong các hành vi như không đăng ký hoặc đăng ký không đúng đối tượng phải đăng ký nghĩa vụ quân sự; không gọi hoặc gọi không đúng đối tượng phải nhập ngũ, tập trung huấn luyện; không báo cáo hoặc báo cáo không đúng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về sổ lượng, kết quả đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện…

Ví dụ: Nguyễn Văn A công tác tại Ban chỉ huy quân sự huyện H. Tháng 1 năm 2019, sau khi nhận danh sách công dán là nam giới đủ 17 tuổi trong năm do Chủ tịch xã N chuyển lên, thấy cỏ tên 5 người là cháu ruột và con người quen của mình, A đã tự ý bỏ tên 5 người này ra khỏi danh sách đăng ký nghĩa vụ quân sự. Hành vi của A cấu thành tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự ” theo khoản 1 Điều 334 BLHS.

Cần lưu ý trong tội này là chi cần người phạm tội thực hiện hành vi làm trái một trong ba quy định là đăng ký nghĩa vụ quân sự hoặc gọi nhập ngũ hoặc gọi tập trung huấn luyện là đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Trong trường hợp người phạm tội làm trái từ hai đến ba hành vi quy định ở trên thì vẫn chỉ bị truy cứu TNHS về tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự nhưng khi quyết định hình phạt, người phạm tội sẽ bị phạt nặng hơn người chi làm trái một hành vi quy định trong cấu thành cơ bản của tội phạm.

Về hậu quả, tội phạm hoàn thành khi có hành vi làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không cần hậu quả đã xảy ra hay chưa. Do đó, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này nhưng đây sẽ là một tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 BLHS cần được xem xét khi quyết định hình phạt.

2.3.  Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của nhà nước về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện. Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm nhưng có ý nghĩa rất quan trọng để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và trong quyết định hình phạt. Động cơ của tội phạm này có thể là vì thành tích cá nhân hoặc thành tích của địa phương; vì vụ lợi hoặc vì các động cơ cá nhân khác.

2.4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt, đạt độ tuổi chịu TNHS và có năng lực TNHS theo quy định của BLHS. Đó là người có chức vụ, quyền hạn trong việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện. Những người này có thể là cán bộ trong hoặc ngoài quân đội được cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ liên quan đến việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện.


3. Hình phạt

về hình phạt, trong cấu thành cơ bản của tội này (khoản 1) quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm; nếu có tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội trong thời chiến thì người phạm tội bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm (khoản 3).

5/5 - (100 bình chọn)

 
® 2024 LawFirm.Vn - The information provided by LawFirm.Vn is not a substitute for legal. If you request any information you may receive a phone call or email from our one of our Case Managers. For more information please see our privacy policy, terms of use, cookie policy, and disclaimer.
Có thể bạn quan tâm
Để lại câu trả lời

Trường "Địa chỉ email" của bạn sẽ không được công khai.

ZaloFacebookMailMap