Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật

0 10.242

1. Căn cứ pháp lý

Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật được quy định tại Điều 162 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi Khoản 32 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017):

Điều 162. Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức;

b) Sa thải trái pháp luật đối với người lao động;

c) Cưỡng ép, đe dọa buộc công chức, viên chức, người lao động phải thôi việc.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

c) Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;

d) Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


2. Cấu thành tội phạm của tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật

2.1. Khách thể của tội phạm

Điều 35 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc.

2. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi.

3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.”

Do bản chất ưu việt của chế độ ta, người lao động được phát huy vai trò làm chủ của mình nhằm đem lại cuộc sống hạnh phúc cho bản thân và gia đình, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh; đồng thời đề cao tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả công việc.

Trong hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức Nhà nước đòi hỏi người cán bộ, nhân viên, người lao động phái không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề. Các cơ quan này không ngừng ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ mới vào rừng sản xuất, quản lý điều hành. Vì vậy, tất yếu phải tiến hành đào tạo lại lao động và xuất hiện thừa lao động, nhưng không vì thế mà tuỳ tiện sa thải cán bộ, công chức và người lao động. Tội phạm xâm phạm quyền và nghĩa vụ lao động của công dân được Hiến pháp ghi nhận, đồng thời vi phạm Bộ luật Lao động và Luật Công chức, Luật Viên chức.

Hình minh họa. Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện các hành vi buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng. Nhà nước ta thừa nhận và khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế, cho nên người lao động có thể là cán bộ, công chức nhà nước được tuyển dụng trong biên chế hoặc hợp đồng kể cà các xí nghiệp quốc phòng cũng như những người trong các liên doanh hoặc tổ chức tư nhân. Ngoài ra, người lao động còn là những người trong các tổ chức xã hội. Cán bộ, công chức là những người làm công ăn lương trong bộ máy hành chính Nhà nước hoặc những người trong các cơ quan kinh tế nhà nước.

Hành vi buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc ở đây là trái phép, ngoài trường hợp pháp luật cho phép. Các thủ đoạn như dùng bạo lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra quyết định sai trái như Giám đốc hay Trưởng phòng tổ chức ký quyết định sa thải một kỹ sư để đưa người nhà của mình vào,… Trái pháp luật là trái với những quy định của các quy phạm pháp luật về thẩm quyền, lý do, thủ tục cho thôi việc.

Tuỳ theo người bị thôi việc là người lao động, cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hay trong doanh nghiệp tư nhân mà đánh giá tính chất, mức độ sai trái.

Ví dụ: buộc một nhân viên cơ quan nhà nước thôi việc nhưng không có lý do chính đáng 1 không thông qua hội đồng kỷ luật cơ quan, trái với Luật Công chức và bỏ qua ý kiến tham gia của tổ chức công đoàn cơ quan, hoặc sa thải một người lao động trong tổ chức tư nhân mà không đúng với Bộ luật Lao động hoặc trái với điều khoản trong hợp đồng lao động. Hành vi sa thải người lao động vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác như vì tiền hoặc lợi ích vật chất, tinh thần khác như: nhận tiền cá nhân hay để vừa lòng cấp trên, vì người này hay kiện cáo hoặc biết rõ mối quan hệ tình ái bắt chính của Giám đốc nên đã sa thải họ…

Trường hợp nhận tiền của một người mà tuyển họ vào cơ quan, nên phải cho người khác nghỉ việc thì người đó không chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật, mà còn phải xem xét về tội nhận hối lộ (Điều 354), tội đưa hối lộ (Điều 364). Hành vi buộc người lao động thôi việc phải gây ra hậu quả nghiêm trọng thì mới phạm tội.

Hậu quả nghiêm trọng có thể về kinh tế, về tính mạng, sức khoẻ con người, về chính trị (ví dụ: vì mất việc làm nên đau ốm, bị bệnh tâm thần, bị suy giảm nghiêm trọng sức khoẻ đã dẫn đến bị chết; gây ảnh hướng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của cơ quan, đến lòng tin của cán bộ, công nhân viên,…).

Trường hợp buộc thôi việc người lao động trái pháp luật, nêu hậu quả không nghiêm trọng thì có thể xử lý theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc xử phạt hành chính. Tội phạm hoàn thành khi người lao động, cán bộ, công chức có quyết định thôi việc.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và tổ chức tư nhân, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có quyền tuyển dụng và cho thôi việc người lao động như thủ trưởng cơ quan, phụ trách tổ chức hoặc người chủ tư nhân thuê nhân công. Họ từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Thực tiễn chủ thể của tội phạm này là người đã thành niên.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý, vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.


3. Hình phạt

Đây là tội phạm ít nghiêm trọng nên hình phạt tù cao nhất chỉ đến 03 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5/5 - (101 bình chọn)

 
® 2024 LawFirm.Vn - The information provided by LawFirm.Vn is not a substitute for legal. If you request any information you may receive a phone call or email from our one of our Case Managers. For more information please see our privacy policy, terms of use, cookie policy, and disclaimer.
Có thể bạn quan tâm
Để lại câu trả lời

Trường "Địa chỉ email" của bạn sẽ không được công khai.

ZaloFacebookMailMap