Khái niệm và ý nghĩa của chứng minh trong tố tụng dân sự

0 1.258

1. Khái niệm chứng minh

Mỗi vụ việc dân sự phát sinh tại toà án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương snên rất phức tạp. Để giải quyết được vụ việc dân sự thì mọi vấn đề của vụ việc dân sự ai nêu ra cũng đều phải được làm trước khi toà án quyết định giải quyết vụ việc dân sự. dụ: Trong vụ án đòi tiền cho vay thì phải làm được các bên đương sự giao kết hợp đồng không? Nội dung cụ thể của hợp đồng như thế nào? Quá trình thực hiện hợp đồng được diễn ra cụ thể ra sao? Bên cho vay đã chuyển tiền cho bên vay chưa? Bên vay đã nhận được tiền vay chưa? Bên vay đã trả tiền vay cho bên cho vay chưa? Đã trả được bao nhiêu còn bao nhiêu chưa trả? Trong việc yêu cầu toà án xác định một người mất tích thì phải làm được người bị yêu cầu xác định mất tích thật đã vắng mặt tại nơi trú của họ không? Thời gian họ vắng mặt tại nơi trú? Từ thời gian nào thì không nhận được tin tức của họ? Như vậy, khi giải quyết vụ việc dân sự trước hết phải làm được tất cả những vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự, sau đó toà án mới thể áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung giải quyết vụ việc dân sự.

Chứng minh làm cho thấy thật, đúng bằng sự việc hoặc bằng lẽ. Các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nêu trên của các chủ thể tố tụng nhằm mục đích làm các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự nên được gọi chứng minh trong tố tụng dân sự.

Chứng minh trong tố tụng dân sự hoạt động ttụng của các chthể ttụng theo quy định của pháp luật trong việc m các sự kiện, nh tiết của vụ việc n sự.

Hình minh họa. Khái niệm và ý nghĩa của chứng minh trong tố tụng dân sự

Chứng minh hoạt động tính chất chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự của toà án nên nội hàm rất rộng. Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng không chỉ thể hiện chỗ xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự còn thể hiện chỗ phải làm cho mọi người thấy thật, là đúng. Do vậy, các phương thức được các chủ thể chứng minh sử dụng để chứng minh trong tố tụng dân sự cũng rất đa dạng. Nhưng để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chứng minh, chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự.

Quá trình chứng minh được diễn ra suốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, từ khi khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự đến khi tán ra quyết định giải quyết vụ việc dân sự. Hoạt động chứng minh trong quá trình toà án giải quyết vụ việc dân sự bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng. Trong đó, hoạt động nghiên cứu đánh giá chứng cứ tại phiên toà của các chủ thể tố tụng mang tính quyết định.

Trên thực tế, hoạt động chứng minh diễn ra dưới dạng cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ là cơ bản và do các đương sự thực hiện là chủ yếu. Vì vậy, chứng minh thường được hiểu theo nghĩa là hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ và chủ thể có nghĩa vụ chứng minh chỉ là đương sự. Tuy vậy, nếu xem xét một cách đầy đủ, toàn diện thì trong quá trình tố tụng, ngoài việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu đánh giá chứng cứ, các chủ thể tố tụng còn phải làm cả những sở pháp lý liên quan đến các yêu cầu trong vụ việc dân sự. Tham gia vào quá trình này không chỉ các đương sự còn các chủ thể khác như người đại diện, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, tòa án vv... Do vậy, chứng minh không đồng nghĩa với việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu đánh gchứng cứ chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự không chỉ các đương sự. Chứng minh bao gồm cả hoạt động cung cấp, thu thập, đánh giá chứng cứ hoạt động chỉ ra các căn cứ pháp để làm cho mọi người nhận thức đúng sự việc. Chủ thể chúng minh bao gồm cả đương sự các chủ thể khác tham gia vào quá trình làm các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự.

Trên thực tế, các chủ thể tố tụng thường tham gia vào vụ việc dân sự với những mục đích khác nhau nên hoạt động chứng minh rất phức tạp. Để bảo đảm được hiệu quả của việc giải quyết vụ việc dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thì pháp luật tố tụng dân sự phải quy định những chủ thể tố tụng nào chủ thể chứng minh; quyền nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể đó, những tình tiết, sự kiện nào trong vụ việc dân sự phải chứng minh những tình tiết, sự kiện nào không cần chứng minh; trình tự, thủ tục chứng minh. Ngoài ra, các chủ thể chứng minh cũng phải thực hiện đầy đủ, đúng các quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình đã được pháp luật quy định trong quá trình tố tụng.

2. Ý nghĩa của chứng minh

Chứng minh hoạt động tố tụng dân sự bản của các chủ thể tố tụng. Kết quả giải quyết các vụ việc dân sự phụ thuộc phần rất lớn vào kết quả của hoạt động chứng minh. Chứng minh trước hết ý nghĩa xác định, làm được các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, bảo đảm việc giải quyết đúng đắn các vụ việc dân sự. Xét cả dưới góc độ luận thực tiễn thì chứng minh vẫn biện pháp duy nhất để xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự. Thông qua hoạt động chứng minh, thẩm phán, hội thẩm nhân dân biết được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được giải quyết. Trên thực tế, không loại trừ trường hợp thẩm phán, hội thẩm nhân dân giải quyết vụ việc dân sự thể biết được một sự kiện, tình tiết nào đó của vụ việc dân sự do ngẫu nhiên. Nhưng để giải quyết đúng vụ việc dân sự thì thẩm phán, hội thẩm nhân dân vẫn không được sử dụng những sự hiểu biết riêng này của họ làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự, trừ trường hợp đó những sự kiện, tình tiết mọi người đều biết. Trong trường hợp này, để loại trừ khả năng thẩm phán, hội thẩm nhân dân kết luận trước về vụ việc dân sự thì thẩm phán, hội thẩm nhân dân không được tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc dân sự đó thể được lấy lời khai với cách người làm chứng. Do vậy, cho thẩm phán, hội thẩm nhân dân giải quyết vụ việc dân sự thể biết được một sự kiện, tình tiết nào đó của vụ việc dân sự thì để giải quyết đúng được vụ việc dân sự vẫn phải tiến hành các hoạt động chứng minh để làm rõ vụ việc dân sự. Ngoài ra, cũng trường hợp một tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự được thẩm phán, hội thẩm nhân dân chứng kiến diễn ra ngay tại phiên toà. nh tiết, sự kiện này thể là tình tiết, sự kiện pháp sự phát sinh, thay đi hay chấm dứt quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự liên quan đến như: sự kiện bị đơn trả cho nguyên đơn một số tiền đã vay tại phiên toà trong vụ việc dân sự đòi tiền cho vay. Do sự kiện này diễn ra ngay tại phiên toà, toà án mọi người đã trực tiếp chứng kiến nên không phải chứng minh. Song, đây cũng chỉ trường hợp biệt, còn lại đa số các skiện, tình tiết của vụ việc dân sự muốn làm , muốn nhận thức được thì đều phải được chứng minh.

Đối với đương sự, chứng minh vấn đề rất quan trọng để các đương sự làm được sở quyền, lợi ích hợp pháp của họ, trên cơ sở đó thuyết phục toà án bảo vệ. Trước toà án, nếu đương sự không chứng minh được sự tồn tại quyền, lợi ích hợp pháp của họ thì quyền lợi ích hợp pháp của họ thể sẽ không được toà án bảo vệ. trên thực tế, các toà án cũng thể sai lầm trong việc xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, không làm sáng tỏ được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Điều này một mặt dẫn đến việc giải quyết vụ việc dân sự không đúng với sự thật, mặt khác làm cho đương sự không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Do vậy, chứng minh không chỉ ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án được đúng đắn còn ý nghĩa bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước toà án.

5/5 - (100 bình chọn)

 
® 2024 LawFirm.Vn - The information provided by LawFirm.Vn is not a substitute for legal. If you request any information you may receive a phone call or email from our one of our Case Managers. For more information please see our privacy policy, terms of use, cookie policy, and disclaimer.
Có thể bạn quan tâm
Để lại câu trả lời

Trường "Địa chỉ email" của bạn sẽ không được công khai.

ZaloFacebookMailMap