Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian

0 12.697

1. Căn cứ pháp lý

Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian được quy định tại Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015:

Điều 7. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian

1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.


2. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian

Về nguyên tắc, chỉ áp dụng quy định của pháp luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện. Nguyên tắc này hoàn toàn đúng bởi vì chúng ta không thể bắt buộc một cá nhân nào đó phải biết được hành vi của mình là phạm tội hay không cho đến khi chúng ta chỉ ra được hành vi đó đã được quy định tại Điều, Khoản, Điểm, Tiết… nào của Bộ luật Hình sự và quy định đó đang có hiệu lực thi hành (có giá trị áp dụng).

Xã hội luôn biến động và cách nhìn nhận của nhà lập pháp, của xã hội cũng sẽ thay đổi theo thời gian. Do đó, trong một số trường hợp sự nguy hiểm của hành vi phạm tội sẽ giảm dần theo thời gian nhưng trong những trường hợp ngược lại tính chất nguy hiểm của hành vi nào đó sẽ tăng dần theo thời gian. Vì vậy cho nên các quy phạm pháp luật hình sự cũng không ngừng biến động theo, một số tội phạm sẽ không còn (mất hẳn hoặc chuyển xuống xử lý vi phạm hành chính), một số loại tôi phạm mới sẽ phát sinh.

Nhằm đảm bảo pháp luật là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội để quan hệ đó ổn định và phát triển theo đúng định hướng, nguyên tắc trên cũng phải tồn tại ngoại lệ (như một lẽ tất yếu), thể hiện tính mềm dẻo và chính sách nhân đạo của nhà nước.

Ngoại lệ này cho phép áp dụng những quy định mà tại thời điểm thực hiện hành vi, quy định đó vẫn chưa có hiệu lực thi hành, cụ thể trong các trường hợp sau:

– Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng;

– Quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới;

– Mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích;

– Quy định khác có lợi cho người phạm tội.

Đặc điểm chung của các quy định trên là nếu áp dụng các quy định mới (chưa có hiệu lực vào thời điểm xảy ra hành vi phạm tội nhưng đã có hiệu lực tại thời điêm xét xử) thì sẽ có lợi hơn cho người phạm tội. Người phạm tội có thể sẽ không còn phạm tội hoặc phải chịu một mức hình phạt nhẹ hơn.

Trong trường hợp ngược lại thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành (Khoản 2).

– Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới;

– Hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích;

– Quy định khác không có lợi cho người phạm tội.

Thực ra quy định này có vẻ hơi thừa vì nó không hề khác với nguyên tắc điều luật được áp dụng phải là điều luật đang có hiệu lực pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Khoản 1. Tuy vậy, việc hơi thừa này thực ra cũng xuất phát từ sự cẩn trọng của nhà lập pháp. Quy định rõ ràng nhưng nhiều khi những cơ quan tiến hành tố tụng lại không áp dụng một cách chính xác, đúng đắn và thống nhất. Hiện tượng oan sai vẫn còn diễn ra nhiều. Cho nên việc tái khẳng định rằng những quy định theo hướng bất lợi cho người phạm tội thì không được phép áp dụng khi hành vi xảy ra trước thời điểm quy định đó có hiệu lực vẫn rất có giá trị thực tiễn.

Hình minh họa. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian

Hiệu lực về thời gian của Bộ luật Hình sự 2015 được phân tích cụ thể như sau:

Thứ nhất, điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

Điều này có nghĩa là, một hành vi phạm tội được thực hiện tại thời điểm nào thì phải áp dụng điều luật đang có hiệu lực tại thời điểm đó để áp dụng.

Ví dụ: Bộ luật hình sự 2015 quy định về việc xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Thì năm 2016 tại thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn có hiệu lực, Công ty A có hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015. Trong trường hợp này sẽ áp dụng điều luật có hiệu lực thi hành áp dụng tại thời điểm này thì sẽ áp dụng Bộ luật hình sự 1999 chứ không phải Bộ luật hình sự 2015.

Theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 có quy định tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phut ngày 01/01/2018. Việc quy định vấn đề này là phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật theo quy định hiện hành.

Thứ hai, Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

Trong pháp luật hình sự hiện hành không áp dụng hiệu lực hồi tố đối với điều luật mới không có lợi cho người phạm tội. Nghị quyết số 41/2017/QH14 có nêu rõ, tội phạm mới quy định tại Điều 147,154, 167, 187, 212, 213, 214, 216, 217, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 394 và 418 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 để giải quyết.

Thứ ba, điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 được hướng dẫn bởi Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP với từng trường hợp cụ thể. Ngoài ra, Nghị quyết số 41/2017/QH14 cũng quy định rõ khoản 3 Điều 7 đối với các trường hợp cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích. Trường hợp này thì điều luật có hiệu lực hồi tố, vì tính chất nhân đạo của điều luật, có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội.

Quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 cũng cũng được áp dụng đối với các điều luật mới quy định tội được tách ra từ các tội ghép trong Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều luật tại Bộ luật Hình sự 1999;

Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”, “đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”, “quy mô lớn” của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14;

Đối với hành vi hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Điều 149, hành vi kinh doanh trái phép theo quy định tại Điều 159, hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của tòa án thì không được căn cứ vào việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ, tội danh đăng ký kết hôn trái pháp luât, tội danh kinh doanh trái phép, tội danh cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để kháng cáo, kháng nghị theo hướng không phạm tội. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về tội hoạt động phỉ, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội kinh doanh trái phép, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã chấp hành xong bản án mà vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hinhd sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 ngày 01/01/2018 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, tội kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội danh tương ứng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 ngày 01/01/2018 thì không được căn cứ vào những quy định cảu Bộ luật Hình sự 2015 có nội dung khác với các điều luật đã được áp dụng để tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào các căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01/01/2018 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14;

Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại Bộ luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại, xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018;

Trường hợp chất thu giữ được là chất ma túy ở thể rắn đã được hòa thành dung dịch, chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, xái thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần quy định tại Điều 248, 249, 250, 251, 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải xác định hàm lượng chất ma túy có trong dung dịch, xái thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần đó làm cơ sở để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ được. Đối với các trường hợp khác thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14, kể từ ngày Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Hình sự 2015 được công bố thì:

+ Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử; hình phạt tử hình đã tuyên đối với người thuộc trường hợp này nhưng chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân. Đối với người bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ điều kiện quy định tại điểm c Khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không thi hành án và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

+ Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính; hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay thế các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa. Nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chủ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành hành toàn bộ hình phạt;

+ Đối với các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự 2015 không quy định là tội phạm nữa; nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ, chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

+ Không xử lý hình sự đối với người tử đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại Khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội các tội mà không được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự 2015; nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

+ Người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt còn lại theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 thì đương nhiên được xóa án tích;

Như vậy, nếu nói về hiệu lực của Bộ luật Hình sự thì hiệu lực về thời gian là phức tạp và khó hơn hiệu lực về lãnh thổ hay còn gọi là hiệu lực về không gian. Trên thực tế, cần phải đối chiếu và áp dụng chính xác đồng thời cả hai loại hiệu lực này khi xác định tội phạm và các yếu tố liên quan đến nó.


3. Tải file Bình luận Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất năm 2017) – Phần chung

Tải về: Bình luận Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất năm 2017) – Phần chung

5/5 - (101 bình chọn)


LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng phản hồi tại trang Liên hệ của Website hoặc qua email: support@lawfirm.vn
Có thể bạn quan tâm
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Bình luận tại đây hoặc Hỗ trợ trực tiếp qua zalo: 0782244468x